Liêu Thái
Anh đã sống ở một phương trời xa lắc xa lơ quê nhà, những câu thơ anh bắt gặp cũng mang một màu da khác. Nhưng dường như đâu đó nơi khuất lấp tâm hồn, những đồng vọng của hôm qua vẫn còn đọng lại trên đỉnh chữ, âm ỉ chảy thành lời trong cuộc dấn tồn sinh…
Trong những người cầm bút, sáng tác thơ của Điện Bàn và Quảng Nam,có thể nói rằng làm cho thơ hay thì không phải ít, nhưng làm cho mới thơ thì quả thực đếm trên đầu ngón tay. Đất Quảng Nam vốn nằm trên bản đồ những miền đất yêu thơ, “làm cách mạng thơ”… Nhưng đó là chuyện của một số quá ít ỏi những con người có ý thức tìm tòi cái mới. Dường như phần còn lại là những nghệ sĩ thị trấn, tỉnh lẻ khư khư ôm cái cũ, tiếc nuối cái mà lẽ ra nó đã được yên vị trong viện bảo tàng… Đào cái cũ, hòng làm mới lại nó chẳng khác nào việc chăm sóc một xác chết với hy vọng nó tươi rói và tiếp tục nói chuyện (hoặc chí ít thì nó cũng “thị phạm” được những gì nó từng nói trong quá khứ!) là một chuyện hi hữu và vô bổ. Nhưng người ta đã làm và làm không ít! Chưa bao giờ khái niệm Truyền thống lại đủ vững mạnh và sức sống như tình trạng văn nghệ tại cái tỉnh nhỏ bé – khúc ruột miền Trung như bây giờ. Có lẽ do vậy mà bất kỳ một người cầm bút nào có ý thức cách tân đều để lại một ấn tượng nào đó trong bạn đọc và thi hữu. Nguyễn Hàn Chung cũng nằm trong số ít ỏi này. Dường như ý thức cách tân vốn đã có từ rất sớm, manh nha trong Tìm tôi trong bóng và hiện rõ hơn trong Nói hộ phù du. Tuy không triệt để, nhưng chí ít anh cũng có một thái độ khước từ những giá trị sáo mòn và tìm một lối đi mới. Một lối đi có nhiều gai góc, cạm bẫy trong cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về hiện hữu.
Tôi tin loài phù du bị hàm oan
bởi kiếp tồn sinh quá ngắn
Nếu không hiến đời mình bằng
đường bay ánh sáng
Sao kịp thành thiêu thân?
Cuộc chạy đua nào không vòng quanh
Nhưng chỉ cánh phù du biết
làm sáng lên ngọn lửa
mới mong chiết ra chất tinh ròng.
(Nói hộ phù du – NHPD)
Nếu không hiến đời mình bằng đường bay ánh sáng/ sao kịp thiêu thân? Hỏi nhưng mà cũng là trả lời. Trả lời bằng chính sự bất lực, bất khả giải của một hiện tượng không phải là của con người nhưng lại có sức biểu cảm, chở thân phận con người trên “đường bay” của nó. Phải chăng hiến (dù trên phương diện nào) là một bất khả kháng trong cõi tồn sinh, là một khả thể trên lộ trình bất định của sinh – thành – bại – diệt? Và hành vi hiến cũng là trạng thái tìm về bản thể hư vô mang nặng bản năng, định mệnh hơn là lí trí, dự tính?! Dường như Nói hộ phù du nhưng cũng là nói hộ ai đó đã, đang đi qua mặt dất này, nói hộ ai đó cũng là đang nói hộ mình, nói hộ mình cũng là đang nói hộ cho im lặng, nói hộ cho im lặng cũng là đang nói hộ cho cát bụi vô thường! Ở đó, người nghệ sĩ bắt gặp cái hữu hạn giữa cái hư vô và cái không cùng giữa cái nhỏ bé mong manh, ý thức cộng sinh, dun rủi con người tiếp tục đi tìm để tái sinh, sáng tạo ra mình thêm lần nữa trong ý nghĩa phù du…
Em múa những đường mây của trời
trong đất nung
qua gió mưa từ bấy
những chùm rêu chưa kịp tỏ tình
em múa đến bao giờ vậy
thần SiVa lặng thinh…
(trích Với người vũ nữ Chăm trên tháp Mỹ Sơn – NHPD)
Dường như đó là lời tự luận, tự vấn, tự trấn… những ý hướng thường thấy trong thơ lãng mạn. Tuy nhiên, sự phản tỉnh đã được thổi vào đó hơi hướm của thời đại, sinh khí của hiện đại bởi âm hưởng lãng mạn có dính những hạt li ti ngôn ngữ siêu thực thông qua kĩ thuật ngắt dòng, định vị từ và sử dụng nhiều hình ảnh mới (tuy rằng chất liệu và chủ đề hoàn toàn không có gì mới mẽ) đậm tính phồn thực, hiện thực huyền ảo của thi ca trong đất nung, qua gió mưa, những chùm rêu chưa kịp tỏ tình với thế giới quanh nó, với cơn khát thèm được sống đang cháy mãnh liệt bên trong nó… Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ - một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…
Nhận tặng vật của đêm
Biết không còn yên ổn
Món quà rẻ rúng khao khát kia!
…
gã tình quất ngựa truy phong
đứa bé đói bấu ngực cha tìm mụn vú
đêm có tội tình chi…
(trích Biến tấu đêm – NHPD)
Ý thức tha nhân, ý thức về nỗi đau nhân tình thế thái, ý thức về những hệ lụy của đời sống luôn là niềm day dứt khôn nguôi trong thơ anh, dường như ở đâu người đọc cũng bắt gặp những dòng thơ mang mang nỗi buồn thế sự, âm âm một mối cảm hoài về sự yếu đuối, bất lực của sự sống trước qui luật khắc nghiệt thời gian, trước những tàn phai và phụ rẫy, trước những hy vọng và bi thảm khôn nguôi… Những dòng ý niệm bên trong được thác vào một cấu trúc ngôn từ mở rộng mang tính đa chiều được định dạng bởi kĩ thuật ngắt dòng tự do, đột ngột, tạo độ trường cấu tứ và ý niệm, mở ra không gian đa chiều kích của thơ.
…
Người đàn bà hết duyên
vắt lòng đẻ ra những đứa con bụ bẫm
rồi lặng lẽ gục giữa tro than
níu những giọt mưa kì ảo của thế gian
nước mắt không còn đủ ấm
những lời ca vẫn bay thấu địa đàng.
Những chuyến tàu cắm vào thời gian
không ga nào đỗ lại
chồi non ra hoa rồi kết trái
…
nghiến lên đường ray
vĩnh hằng khúc tráng ca.
(trích Dưới mưa – NHPD)
Dường như khi đọc những bài thơ trong Nói hộ phù du, tôi có cảm giác vẫn còn thấp thoáng những hình ảnh, ý tứ, không gian tâm lý của Tìm tôi trong bóng. Và điều này ít nhiều tạo cảm giác khó chịu về tính liên văn bản hơi “sống” của những tác phẩm thơ anh. Tuy nhiên, đây cũng là “căn bệnh” không thể tránh khỏi của bất kì một người nghệ sĩ nào trên con đường sáng tạo. Vấn đề nằm ở chỗ mức độ và dung lượng phản chiếu của cái cũ (do chính anh tạo ra) lên cái mới đậm hay nhạt, khả dĩ chấp nhận được hay không và tạo ra hiệu ứng nào cho độc giả. Với Nói hộ phù du, vẫn còn âm vang đâu đó cái âm hưởng của Lãng mạn - Nhân văn, vẫn còn khuất lấp nơi ngóc ngách của “căn nhà mới” một cái bóng của ca dao, dân ca, vè bởi nỗ lực làm mới lục bát bằng cách tận dụng tối đa vần lưng, tạo nhịp theo một qui thức hoàn toàn mới: 2 – 2 – 3 – 1; 4 – 2 – 3 – 1; 5 – 3 – 1; 1 – 1 – 5 – 1…
Đó cũng là cách chơi khá mới mẽ của anh trong lục bát – một thể thơ cũ và dễ dẫn đến sáo mòn cho người sử dụng, khai thác, đó cũng là cái bẫy.
…
Nếu như cái vẻ nhu mì
Rớt về ta đạn bom thì…hiểu không?
Muốn cho biển lặng trời trong
Thì thôi, gửi gió bế bồng, thế thôi!
Phải chăng có những kiếp người
Suốt đời lấy cái xa xôi làm gần.
(trích Tự thức – NHPD)
…
Chưa bao giờ tới Pleiku
Mà sao nhớ quắt quay như nhớ nhà
Nhớ làn môi bỏ bùa ta
Nhớ con mắt hạt dẻ già đắm sông
…
(trích Nhớ Pleiku – NHPD)
Với một dung lượng mỏng, chi phối không đáng kể trong toàn tập, nhưng lối viết thả lơi cảm xúc chảy theo dòng tự nhiên, không gắn gượng áp đặt một cấu tứ nhất định nào lên tác phẩm – viết automatic – giúp cho tập thơ có những khoảng rơi, những khúc phiêu dẫn dụ cảm giác vào một cảm quan mới lạ, thuần tính và chứa sức nặng suy tư… trong không gian mở của thơ văn xuôi, thơ hoạt tính…
Giọt trời xanh không ngoái lại cuối sông, cửa Đợi đang chờ. Đại ngàn lốm đốm lá vàng tơ theo con nước dập dềnh sóng vỗ. gặp Vu Gia sông chia đôi nhánh ghé Điện Bàn tắm táp vườn dâu. Tiếng thoi đưa lách cách đuổi nhau. Sự sống bừng bừng tở mở…
(trích Thu Bồn – NHPD)
Những chùm rêu bầu bạn áo xiêm em, cuộc hôn phối thời gian và cổ tháp. Điệu múa ấy làm hồi sinh phế tích, trong vô thanh phản phất nét ca Chàm. Cỏ bàng hoàng từ mấy trăm năm, em vẫn múa sá chi màu dâu bể. Đã tro bụi những hoàng triều chuyên chế, mọi trò chơi phù phiếm bậc quân vương. Người về đây để được tái sinh em, sự già cỗi hóa thanh xuân quyến rũ. Những gót nhảy tay xòe hông múa, không dễ tìm đâu trên thế gian này. Đừng hao mòn vì một thoáng mưa mây, Chiêm nữ ạ! Em vĩnh hằng tĩnh tại. Cứ vũ lộng hồn em đi, cô gái, thời gian xanh quì rạp trước em thôi.
Đừng bắt những chùm rêu phải nhận chịu đổi dời, xin van vỉ kẻ nguôi lòng cổ tích. Tôi muốn hóa thành rêu để ôm em thật chặt, mốc meo nhau ngôn ngữ không lời. trong hoang tàn diễm lệ…
(trích Mỹ Sơn – NHPD)
Dù đứng ở góc độ nào, triển hạn trên phương diện nào nhằm tạo ra những mới lạ trong thi pháp, cấu trúc, ngôn ngữ thơ, vẫn bàng bạc đâu đó một dòng hoài niệm lẩn khuất dưới đáy câu chữ, bên trong những vỉa từ của Nói hộ phù du. Có lẽ sự bắt gặp nhiều nhất trong thơ Nguyễn Hàn Chung không nằm trong hình thức mới lạ và cũng không khu biệt trong những nỗ lực thay đổi hệ qui chiếu của chủ đề mà lại hàm chứa dáng dấp, chân dung của một con người luôn tha thiết sống, tha thiết yêu, tha thiết đau và cả tha thiết đón nhận nỗi đau như một người bạn cưu mang trong đời sống vốn mang nhiều hệ lụy và phi lý.
Phía trái căn nhà tôi ở
Có ông lão già quắt queo
Các con chia nhau vạt đất
Chia cho ông vạt nắng chiều
Phía phải căn nhà tôi ở
Có người đàn bà năm con
Mỗi con có riêng một bố
Bơ vơ đến sáu linh hồn
Phía trước căn nhà tôi ở
Lấp ló mươi nàng mắt xanh
Có người đạo cao như núi
Đến đây cũng biến mất hình
Phía sau căn nhà tôi ở
Có lối thông ra bến ngang
Tôi rủ chiều ra sau ngõ
Ngó đăm đắm lũy tre làng
Không thể chia lòng bốn phía
Nên còn nặng gánh đa đoan.
(Cạnh nhà tôi ở - NHPD)
Và viết, sáng tạo giống như là hành vi khẳng quyết sự tồn tại, khẳng quyết những bất an, trăn trở tử sinh được kí thác trên ngôn ngữ để rồi trả nó về với gió bụi không cùng. Khi những lời phù ảo bay lên, cũng là lúc người nghệ sĩ đối diện với bản ngã lao lung trên những bước hành hương dõi tìm diện mục, dõi tìm bóng dáng chân như… Và, trong mỗi sát na đi qua thường hằng sự sống, những câu thơ gắn trên hệ lụy đời người như một thoại đầu bất tận. Những nhận định chỉ mang tính chất võ đoán (nhận định của tôi cũng không nằm ngoài qui luật này) và làm rối mù hiện hữu. Nhưng dẫu sao, người đọc vẫn có quyền suy ngẫm, ôn lại những ấn tượng còn chìm khuất trong sương mù kí hiệu và bản ngã, dấu hiệu và tồn sinh, hiện tượng và vô cùng… như một lời tri âm trên mặt đất hoang vu này!
Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo.
Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh
Tháng 8 25th, 2008 · No Comments
→ No CommentsTags: Thơ chọn và bình · Văn thơ bầu bạn
Phác lộ
Tháng 8 9th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Phác lộ anh thiên tài cống rãnh
bủng beo em thời gian
rồi cũng trôi qua một đận bầm dập
mong ngóng nỗi gì
cái gì đến đã đến sẽ đi
cái gì đi đã đi sẽ đến
rốt cục tàn hơi tỉnh thức
quay về hú vang câm tức ngực
mụ người khói cay con mắt
không một ngụm rượu mà giọng cứ nhừa nhựa ủ ê thở hắt cớ sự lên bàn phím
ký tự bấu vào nát tan
cập nhật hóa ngai thờ đoạn trường cống rãnh
Phác lộ em những đường cong phập phù hằng cữu
sướng thiên thu cây cỏ không biết buồn
ái ngại những đợt trận phồn hoa phủ bùn lên nội y
con cúi
em à em
khói thuốc có trù yểm rù quyến được ai đâu
mà hăm hở đốt đền
anh sần sùi hét toáng lên cho đỡ mỏi chứ nào dám xa em sợ vung vãi tình yêu gây tội tình lũ nhóc
nỗi buồn chó điên sùng sục cắn cấu vết thương vừa kéo da non
phác lộ mùa thu mòn con đường giãy giụa
đừng trưng ra nữa quên đi đủ rồi
phù du làm sao mà nở bông huống hồ đòi đậu trái
chẳng qua bụi bẩn nhét đầy
giấc mơ anh mang máng có em
bao giờ cũng đến đi vô tăm tích
Phác lộ yếm em một giây huyền ảo
che chắn nỗi buồn ngập ngụa
tất thảy
ngai thờ cống rãnh
biến mù đi
August 8/08
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Cuộc sinh tồn thon em
Tháng 7 19th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Cuộc sinh tồn thon em
trói chặt gã đàn ông ứ nhớ
bầm uất không xuất
cơn mê dính chặt vào thân
Không có thơ
gâu gâu nỗi buồn bảy món
lũ hoạnh tài háu ăn
Chống mắt xác tín những lần giảo nghiệm húp chan
đời anh đời em đắng chát
vô vị vô vọng không lẽ vô vi
lấy gì phà vào sâu hun hút
đồng tiền bén ngọt cứa vào nhân luân mê hoặc
tất thảy mọi bộ phận không ngoại trừ
A men
Không đủ đảm lược nói mắt huyền tóc mơ chán chết
tất nhiên biết uế tạp
u mê anh cứ ham đeo đuổi cơn động dục lâm bồn
mặc em vun vào thánh thiện
mãn nhãn chớp tắt
còn hơn một đời lu câm
Trước khi thánh phải là người
dẫu trong tận cùng thực tướng
dẫu ngày thiên địa chuyển sát
dẫm lên húy kị bươn rớt chấp chịu
đâu dám bỏ bê cuộc sinh tồn thon em
July 12/08
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Trước bầy đầu Manikin (1)
Tháng 7 10th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Trước mắt anh một bầy đầu manikin kiều diễm
tóc mây loạn sắc
tóc mượt bay bay
tóc từ đâu lại
có trời mà biết nhưng chắc chắn không phải của những người đàn bà giàu sang
tóc người giàu không bán
Anh cảm thấu mùi tóc mun Asia mùi tóc quăn Africa xa xôi mùi gì gì đó cùng màu tóc mun em xưa cùng mùi rong rêu rừng rú ruộng rẫy mùi sa mạc mùi đồng cỏ mùi cứt bò
Mùi của anh
Bầy manikin có những đôi mắt đẹp mê hồn long lanh vô cảm
Anh bất lực không nhận ra màu mắt em trú ngụ hà phương
Mà hồng non môi mọng tang sao anh mất cảm giác hôn hít má bầu mặt mụn
Manikin và anh lạnh tanh
Anh lùn tịt mà bầy đầu manikin lại ở trên cao
không thèm nhìn anh nửa con mắt
anh vẫn cố lừa anh theo kiểu phả hồn
không biết từ lâu khánh tận tình yêu thuần khiết ngày cập kề tuổi teen
Bầy đầu Manikin xõa tóc
mỗi con nhìn một hướng
anh nhớ mùi hương chang (2) tóc mẹ
tóc manikin tuyệt không có gàu
tóc mẹ khen khét bài ca vọng cổ
Bầy đàn manikin không hề biết giả dối
tóc các châu màu cơ cực
anh chán ghét bất cứ ai ký sinh màu tóc
để hát bài bên nhau…
July 08/08
(1) đầu Manikin : đầu hình nhân giả đội tóc thật (2) chang :lọn tóc của người phụ nữ dùng để bới thêm vào đầu tóc cho phồng, dài thêm
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
MÔNG MUỘI
Tháng 7 5th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Anh ném phao cứu sinh em vào thời gian
chấp chới con đường xa lắc
phao cứu sinh em lúc đến độ chìm
tất thảy
thánh thần úm ba la mông muội
Ru mỏi từng lóng xương khúc ca tình rủ rỉ sợ phật lòng
em ừ hử cho qua
anh trộn lẫn bún ,phở ,mì vào một bát cơm nghe toàn mùi khoai sắn
Câu ca dao lỗi đạo rủ rê anh từng đợt từng luồng
hơn cả đàn bà mê shopping đàn ông nghiện sex
đố chiêm tinh gia Trần Đoàn dịch số nào gieo quẻ đoán mò
nầy vượt biên nọ quan tham
ai phiền muộn hơn ai ?
Làm thơ không cố ý gieo vần nó lẽo đẽo bám theo sau
nhắc anh nhớ những con rầy nâu hút no màu đòng đòng lúa trổ
Thôi đừng tiếc chuyện thích khách sang Tần chết banh thây nát xác
không có Trường thành vé tham quan bày bán cho ai
thôi đừng nhắc chuyện bọn Tây dương bán mạng nước nghèo
cuộc thiên hạ chẳng bao giờ phân định hơn thua bằng tạch đùng..chóe… chóe…
cuộc Trường Sa Hoàng Sa kẻ máu lạnh hơn tiền mới không manh động
máu anh còn chưa nhiễm HIV
sang nước người năm năm quên tiếng muỗi rền
ba mươi năm tim cấy van heo còn nước nôi gì
chống và hô chỉ còn cái bã
Anh ném phao cứu sinh em vào thời gian
mọi con đường dương gian đều có quỷ ma canh gác
cõi kia biết có hay không
chúng mình đều già quắp cần câu
bủng beo tình yêu cho buổi côn đồ vụng dại
làm thơ như gã khật khùng huyết âm lũng đoạn
may mà nhắc tới em là còn sướng rên
đỉnh cao của văn minh là mông muội thôi
đỉnh cao của tình yêu là bày trò lừa gạt
đỉnh cao của nhân danh là sự đủ đầy
anh hấp thụ tinh âm con chữ mà phóng ra thôi
mặc cho bất kỳ ai chì bấc
chỉ riêng phao cứu sinh em mới có quyền …
July 4 /08
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Hèn Ta thơ
Tháng 5 29th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
1
quê
biết chắc mình trơn như cá
thấy bộ dạng bức hiếp
tự nhiên một sát na rùng mình
run bắn người
nghiêng chao
trong đầu không hiện một mảnh thơ nào
lấy gì để vịn ?
2
kiểng
buổi sáng ỏm tỏi căm thù
tang thương dày xéo
miệng hô như két
đọc thơ thợ vanh vách
bắt nhỏ học thuộc
buổi chiều get line
chờ kẻ thù kêu tên interview
con đường mù tăm sáng bảnh chọe !
3
di
kẻ thù cho food stamp
kẻ thù chữa bịnh free
kẻ thù ơi !
ta chưởi ngươi suốt ba mươi năm ra rả
mòn hết phấn
cùn hết bút
sao ngu thế
không thù ta ư?
4
dân
quần quật quần quật
ngày mười ba tiếng
xương đánh đu với da
ốc đau no
còn phải lo tôm bên nhà đớn khát
còn tơ tưởng cách tân xiếc chữ
phỉnh dỗ hèn ta
5
thơ
ông chính quăng cư..
ông chát quăng l…
ông đợi quăng că…
chẳng thành nhà thơ cả đó sao
cớ gì kỳ khu thôi xao tỉ mẫn
dẹp mẹ ẩn dụ hàm ngôn du dương dụ gái
chuyên trị thơ tục thơ rác thơ phàm cực khoái
sướng quá ta !
6
trá
quần dân ngu muội của Khổng Khâu
quần sinh mê muội của các tay lừa dối vĩ đại
tất thảy quần nhơn xuân lép hạ kẹp đều muốn quần
nhưng bị luộc nên bao giờ cũng xiết
7
thuật
ông Lê ông Trần hưởng cái án lâu năm thành tinh
rợn liều luộc chữ
đạt dần sáng giá cách tân
kẻ mon men chưa bị đóng đinh
cũng đòi cương
thành kẻ đạo
mà không được tuẫn bao giờ …
8
ngẫm
thường trong mười người
có đến chín người không ưa ngụy quân tử
trong chín người có đến mười người
chấp chịu chân tiểu nhân
có điều ai cũng lắc đầu nguây nguẩy
ngay khi chỉ có thơ với mình
9
tung
bông phèng khoác lác vừa phải
cho qua
thơ rác thơ dơ vừa phải
cho qua
hũ nút tắc tị nhiêu bấy
cho qua
xào đi xào lại chôm chỉa
cho qua
một chút quê quê sông sông cỏ cỏ
một chút em em anh anh bưởi bòng rạ rơm
rứa là thành nhà thơ
xoắn lấy nhau thỏa thuê tha hồ tung hứng
10
rụi
ông nào sắp tiêu ma cũng ức
giấu ba mặt ngấm vào trong
di bút di cảo di ngôn luộc tùm lum
bởi biết ngày di quan đã tới
còng lưng gánh thời đại mình
nhất định thơ hèn người hèn không có lổ…
huống gì ta miệng sên gan sứa
26/5/2008
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ · Văn thơ bầu bạn
Đánh cờ một mình
Tháng 5 4th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
I
Chơi cờ
ít nhất phải chơi tay đôi
Anh chơi một mình
cũng lạ !
Mỗi lần anh vượt sông
anh đều chia quân cản phá
Quay về thủ thành
anh thí mã
anh rụng pháo
anh rớt xe
cuộc cờ
tan nát cả
Cái giá phải trả
cho lối chơi cờ một mình
địch thủ cũng là Anh .
Điện Bàn- Quảng Nam 1985
II
Cờ sắp đến hồi tàn cuộc
anh còn cố dúi con tốt điều qua sông
liễu lĩnh làm cú chót
Cả đời quen thói rề rề
bây giờ xa lộ thênh thang
con mã còm chết ngáp
Thôi những cú nhảy lò cò làm oai
với chốt
thôi những nước tấn ,bình gian nan
khai cuộc
quân pháo chui vào một góc
không ngòi
hòng nổ , nã được ai
Anh điều quân đi lộn tùng phèo
chẳng quân nào đủ sức
vào vai
những nước cờ quýnh quíu
Xa mã nhà người thôi phi nước kiệu
tốt đầu anh hết nước vô cung
Quân tướng nhà mình ứng chực đầu sông ?
Houston-Texas 04/05/2008
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Phu chữ kỳ khu bóng chữ hồn
Tháng 4 27th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Mỗi lần chạm vào thơ Lê Đạt tôi lại nhớ mang máng mấy câu thơ của Lư Diên Nhượng không biết ở đời nảo đời nao bên Tàu:
‘’ Ngâm an nhất cá tự
Nhiên đoạn sổ hàng tu
Hiểm mịch thiên ưng muộn
Cùng sưu hải diệc khô “
Cũng là kiểu nói của Giả Đảo nhưng ông Lư nói huỵch toẹt cụ thể hơn nỗi khổ của công việc làm thơ( bởi bứt râu đau lắm đấy )
Nhà thơ phu chữ chắc chắn phải khoái mấy ông này lắm nhưng theo thiển nghĩ (lại thiển nghĩ ) ông không hề bái phục bởi lẽ ông còn trên cơ tiền nhân khi chữ của ông không hề ‘’ ngâm an,ngâm thành ‘’ chút nào , bóng chữ của ông cựa quậy ,co duỗi bất thường như một thứ huyễn tưởng không có gì kìm chế nổi. Ông bị rồi nên rất ý thức việc bắt hàm nghĩa chữ phải lao dịch xây (Vạn Lý ) trường thành nhằm giảm bớt hoặc giả né đi hậu quả kích động thông báo của ý .
‘’ thu khuya ai xổ một hồi còi’’
Lê Đạt và Bùi Giáng lao động chữ giống như hai cao thủ võ lâm nam đao và bắc kiếm nhưng sự kỳ khu phu chữ của Lê Đạt thường tất lộ còn ông Bùi thì khơi khơi mà kín kẽ hơn .Tuy nhiên cả hai ông đều đã được đả thông sinh tử huyền quan chữ rồi nên ẩn tàng trong chữ thường hô biến biến nhiều chiêu thâm hậu khôn lường .
Anh Lê Đạt đã đi rồi. Nói cám ơn vụ Nhân Văn –Giai Phẩm thì quá phản cảm nhưng như ông bà ta nói :Ơn kẻ dữ chứ không ai ơn người lành . Phải chăng vụ tàn diệt kia chính là tác nhân tạo bóng chữ cho nhà thơ Lê Đạt.Nếu không ?
Houston Texas
26/04/08
→ No CommentsTags: Uncategorized
Phan Hoàng Phương
Tháng 4 19th, 2008 · No Comments
RẰM THÁNG BẢY
Đêm nay
Chuyến tàu chở người từ cõi âm về đông nghẹt
Con không dám ra sân ga đón người
Không dám nhìn sâu vào di ảnh của người
Vì lại sợ người tin cậy
Ngày ấy, người đã dặn con điều gì
Trước khi nhắm mắt xuôi tay
Con đã ghi nhớ trong tim mà không làm được vậy
Người ơi
Chúng con đã từng ở cạnh nhau
Cùng bảo bọc trong những ý nghĩ của nhau
Thế mà giờ đây, chúng con ở cạnh nhau mà cách biệt tựa âm dương
Giá như ngày đó
Người đừng đưa con đến dòng sông
U u mang mang như tiền định
Đừng để con chạm tay vào mặt nước
Lộ dần ham muốn trần gian
Đêm nay
Trăng trôi về một phía
Mây dạt về một phía
Lòng con đầy nỗi lo âu
Liệu mai kia hương khói có xa dần?
Chuyến tàu lại rời ga
Con sấp ngửa chạy theo mà không ai hay biết
Con biết sẽ có ngày con được cùng người quay trở lại
Kiếm tìm ý nghĩa trần gian./.
2.TRĂNG MUÔN THUỞ
Mẹ ở nhà
Con đi chơi chốc lát
Trăng sáng qúa
Con chẳng biết đâu là đêm hay là ngày
Trăng sáng qúa
Mẹ cũng chẳng biết đâu là khuya hay là sớm
Con đi kẻo bạn chờ
Người mẹ ngồi xuống bên thềm
Mắt như dán vào bước chân con gái
Vằng vặc trên cao
Tha thiết một vầng trăng mời gọi
Suốt đêm
Cánh cửa khép hờ
Len lỏi dọi một vầng trăng muôn thuở./.
3.VỚI NỖI BUỒN CHƯA TỚI
Hãy mỉm cười với tôi một lần nữa
Hỡi số phận dịu dàng
Hãy an ủi trái tim một lần nữa
Hỡi tình yêu thủy chung
Đêm nay vạn vật ngủ yên lành
Sao chất đầy một dãi
Sau lễ dâng hương là thì thầm câu hát
Mọi niềm vui thì đã qua
Còn nỗi buồn thì chưa tới
Mảnh trăng non cút côi
Nghiêng mình sau lưng núi
Chỉ còn dăm bữa nữa thôi
Là đến ngày rằm
Lúc ấy thì mọi điều sẽ khác./.
→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
BẠCH THỦ TƯƠNG TRI DO ÁN KIẾM
Tháng 4 9th, 2008 · No Comments
Tản văn Huỳnh Ngọc Chiến
Thiên hạ mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường!
Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác
Con người sống trong đời, nếu không phải là bậc chân nhân thế ngoại tìm niềm vui trong cảnh giới tiêu dao tự tại của riêng mình, thì thường có nhu cầu đòi hỏi sự cảm thông và chia sẻ. Người ta thường nói, niềm vui có người chia sẻ sẽ được nhân đôi, còn nỗi buồn nếu có người chia sẻ sẽ vơi đi một nửa. Tôi muốn nói thêm: niềm vui nếu có bạn tri kỷ chia sẻ sẽ được tăng lên vô hạn, còn nỗi buồn nếu có bạn tri kỷ chia sẻ sẽ hầu như tan biến.
Nhưng ở đời có thể tìm được chăng một người tri kỷ? Tấm lòng tri âm giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ, tình bạn tri kỷ giữa Quản Trọng và Bão Thúc Nha có lẽ chỉ còn là huyền thoại. Bạn tri kỷ chỉ do cơ duyên mà gặp, không thể gượng gạo mà cầu.
Không riêng gì loài người mà cả loài vật cũng khát khao tìm tri kỷ, từ thế giới có sự sống của bao loài sinh vật cho đến thế giới tưởng chừng vô hồn của sỏi đá, cỏ cây. Tình tri kỷ không chỉ sưởi ấm lòng người mà còn phủ lên sỏi đá, cỏ cây những phần hồn linh động. Có khi tìm tri âm, tri kỷ trong loài vật lại đem cho ta nhiều an ủi hơn so với loài người! Những người có tài hoa và nhân cách, thuở bình sinh hoặc khi lâm vào những cảnh ngộ khốn cùng thường lấy loài vật làm tri kỷ. Loài vật, về mặt lý thuyết sinh vật học, còn tiến hóa dưới loài người nhiều bậc, nhưng về mặt thủy chung như nhất ắt hẳn vượt trên loài người rất xa. Nhất là ở vào thời buổi nhố nhăng này, thời buổi mà ngay cả những kẻ sĩ tưởng chừng như có được đôi chút nhân cách và sống với bạn thiết bằng tấm lòng “tri kỷ” thuở hàn vi, vừa mới thành đạt đã xênh xang trong vòng áo mũ, hợm hĩnh xem mình là “Thiên hạ đệ nhất nhân” kiểu Bạch Tự Tại của phái Tuyết Sơn, để vội vàng che giấu quá khứ nghèo hèn. Mà một kẻ toan chối bỏ quá khứ thì còn có tương lai chăng? Tôi linh cảm hai chữ “tri kỷ” chỉ có với con người trong thuở hàn vi.
Trương Trào trong U Mộng Ảnh từng một câu tha thiết:
“Trong thiên hạ có được một người tri kỷ, thì có thể không còn ân hận gì nữa. Đâu phải chỉ có con người mới thế, mà cả vật cũng vậy. Như cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ, mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ, trúc lấy Tử Do làm tri kỷ, sen lấy Liêm Khê làm tri kỷ, đào lấy những người trốn vua Tần làm tri kỷ, hạnh lấy Đổng Phụng làm tri kỷ, đá lấy Mễ Điên làm tri kỷ, trái vải lấy Thái Chân làm tri kỷ, trà lấy Lư Đồng, Lục Vũ làm tri kỷ, cỏ thơm lấy Linh Quân làm tri kỷ, thuần lư lấy Quý Ưng làm tri kỷ, chuối lấy Hoài Tố làm tri kỷ, dưa lấy Thiệu Bình làm tri kỷ, gà lấy Xử Tông làm tri kỷ, ngỗng lấy Hữu Quân làm tri kỷ, trống lấy Nễ Hành làm tri kỷ, tỳ bà lấy Minh Phi làm tri kỷ - Một khi đã gắn bó thì ngàn thu không đổi”.
(Thiên hạ hữu nhất nhân tri kỷ, khả dĩ bất hận. Bất độc nhân dã, vật diệc hữu chi. Như cúc dĩ Uyên Minh vi tri kỷ; mai dĩ Hòa Tĩnh vi tri kỷ; trúc dĩ Tử Do vi tri kỷ; liên dĩ Liêm Khê vi tri kỷ; đào dĩ tỵ Tần nhân vi tri kỷ; hạnh dĩ Đổng Phụng vi tri kỷ; thạch dĩ Mễ Điên vi tri kỷ; lệ chi dĩ Thái Chân vi tri kỷ; trà dĩ Lô Đồng, Lục Vũ vi tri kỷ; hương thảo dĩ Linh Quân vi tri kỷ; thuần lư dĩ Quý Ưng vi tri kỷ; tiêu dĩ Hoài Tố vi tri kỷ; qua dĩ Thiệu Bình vi tri kỷ; kê dĩ Xử Tông vi tri kỷ; nga dĩ Hữu Quân vi tri kỷ; cổ dĩ Nễ Hoành vi tri kỷ; tỳ bà dĩ Minh Phi vi tri kỷ - nhất dữ chi đính, thiên thu bất di).
Tất cả những loài động vật lẫn thực vật trong câu nói của Trương Trào sinh ra quả không uổng một phen tồn tại giữa cõi trần gian. Tôi xin ghi chú những điển tích lý thú và cảm động trong câu nói của Trương Trào, để bạn đọc cùng tham khảo và nghiền ngẫm.
Cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ. Uyên Minh tức Đào Tiềm, hiệu Uyên Minh, nhà thơ lớn đời Đông Tấn, người đã trả áo từ quan về vui cảnh điền viên. Có bài Quy khứ lai từ rất nổi tiếng. Ông sống thanh cao, và rất yêu hoa cúc, làm nhiều bài thơ về hoa cúc. Trong hai mươi bài thơ “Ẩm tửu” có câu “Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam sơn” 菊,見 (hái cúc bờ rào phía Đông, xa xa thấy núi Nam).
Mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ. Lâm Hòa Tĩnh tức Lâm Bô, nhà thơ đời Bắc Tống, được gọi là ”Tây Hồ ẩn sĩ”. Ông một mình ở Tây Hồ, nuôi hạc trồng mai, và thường bảo lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con. Bài thơ Sơn viên tiểu mai với hai câu được xem là thần cú đã gắn liền hình ảnh nhà thơ ẩn đạt với cành mai.
Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,
Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn
(Nước soi nghiêng bóng mai gầy
Dưới trăng, hương nhẹ thoảng bay trong chiều)
Trúc lấy Hữu Quân làm tri kỷ. Hữu Quân tức Vương Huy Chi, con trai nhà thư pháp lỗi lạc Vương Hy Chi, tự Tử Do, người đời Đông Tấn. Theo “Thế thuyết tân ngữ”, Vương Huy Chi có lần đến ở trọ nhà người, bảo trồng trúc. Có người hỏi: “Ở tạm, sao phải phiền phức vậy?”. Vương chỉ cây trúc, bảo: “Hà khả nhất nhật vô thử quân?! (Làm sao có thể một ngày thiếu người này được?). Không thể sống không có trúc, dù chỉ một ngày. Thử hỏi trong đời còn có mối tình tri kỷ nào sâu đậm hơn chăng?
Cúc lấy Liêm Khê làm tri kỷ. Liêm Khê tức Chu Đôn Di, nhà lý học đời Nam Tống, yêu hoa sen, có bài “Ái liên thuyết” nổi tiếng ở đời. Ông sống thanh cao, suốt đời chỉ yêu hoa cúc. Trương Trào cho rằng, cúc khiến người ta quê mùa (cúc linh nhân dã). Đây là cái “quê mùa” hồn nhiên, thuần phác, rất đáng trân trọng của những người gần gũi với thiên chân.
Đào lấy những người trốn vua Tần làm tri kỷ. Theo “Đào hoa viên ký” của Đào Tiềm, có người nhặt cánh hoa đào trên suối, bèn lần theo con suối đi ngược về nguồn thì gặp một làng trồng toàn đào, sống thanh bình như cảnh thần tiên. Hỏi ra mới biết tổ tiên họ là những người trốn chính sách tàn bạo của nhà Tần, lánh đến đây sống. Hoa đào đem lại thanh bình cho những kẻ trốn thời bạo loạn.
Hạnh lấy Đổng Phụng làm tri kỷ. Đổng Phụng là danh y thời Tam Quốc, tự Quân Dị. Mỗi khi chữa bệnh cho người, ông không lấy thù lao mà chỉ yêu cầu trồng hạnh - được hơn mười vạn gốc hạnh. Khi hạnh ra trái, ông đem đổi gạo để giúp người nghèo. Chư Phật bảo: “Cúng dường chúng sinh là cúng dường Tam Bảo”. Đổng Phụng là người đã dùng cây hạnh để làm Phật sự.
Đá lấy Mễ Phí làm tri kỷ. Mễ Phí là thư pháp lớn đời Nam Tống. Ông yêu đá đến độ si cuồng, có lần khăn áo chỉnh tề ra lạy viên đá gọi là ”ông nhạc” nên bị đời gọi là Mễ Điên.
Trái vải lấy Lệ Chân làm tri kỷ. Lệ Chân tức Dương Quý Phi, rất thích ăn trái vải (lệ chi) của đất Bắc Việt Nam. Đến mùa vải, Đường Minh Hoàng phải cho ngựa trạm mang vải từ miền Bắc Việt Nam đến kinh đô Trường An cho Dương Quý Phi.
Trà lấy Lư Đồng, Lục Vũ làm tri kỷ. Lư Đồng là nhà thơ đời Đường, hiệu Ngọc Xuyên Tử, rất mê trà, có bài thơ Trà Ca lưu truyền ở đời. Lục Vũ được đời xưng tụng là “Trà Thánh” (ông thánh về trà), tác gia đời Đường có cuốn Trà Kinh, được xem là cuốn kinh điển về trà.
Cỏ thơm lấy Linh Quân làm tri kỷ. Linh quân tức Khuất Nguyên, nhà thơ lớn đời Chiến Quốc, có tập Sở Từ nổi tiếng. Trong thơ, ông nói đến cỏ thơm để ví với lòng trung của người quân tử.
Thuần lư lấy Quý Ưng làm tri kỷ. Trương Hàn, tự Quý Ưng, đời Tấn làm quan ở Lạc Dương, nghe gió thu nổi lên, bỗng nhớ món canh rau rút cá rô (thuần lư) ở quê nhà, bèn từ quan về quê; về sau từ “thuần lư” được dùng để chỉ lòng nhớ quê.
Chuối lấy Hoài Tố làm tri kỷ. Hoài Tố là tăng nhân đời Đường, đệ tử của Huyền Trang. Tục tính là Tiền, tự Tàng Chân. Tương truyền ông trồng hàng vạn gốc chuối, dùng lá chuối để viết thay cho giấy.
Dưa lấy Thiệu Bình làm tri kỷ. Thiệu Bình làm đến tước Đông Lăng hầu đời Tần. Nhà Tần mất, nhà lâm vào cảnh nghèo túng, phải trồng dưa ở phía đông thành Trường An để bán. Dưa lớn trái thơm ngon, người đời gọi là Đông Lăng qua (dưa của Đông Lăng hầu).
Gà lấy Xử Tông làm tri kỷ. Theo Văn nghệ loại tụ thì Tống Xử Tông là Thứ sử đời Tấn, có lần mua được một con gà trống có tiếng gáy rất dài, thương yêu rất mực. Con gà học được tiếng người, thường cùng Tông nói chuyện suốt ngày, tỏ ra rất thông minh. Xử Tông nhờ đấy mà ăn nói giỏi giang thêm.
Thiền sư Tăng Sảng, bạn nhà thơ Tô Đông Pha, có nuôi một con gà trống, mỗi khi ông tụng kinh thì con gà lại đến nằm một bên để nghe kinh. Như vậy, ta có thể nói thêm “Gà lấy Tăng Sảng làm tri kỷ”!
Ngỗng lấy Hữu Quân làm tri kỷ. Hữu Quân tức Vương Hy Chi. Ông là nhà thư pháp lỗi lạc của Trung Quốc, chữ của ông rất quý. Tính ông rất thích ngỗng, có lần viết hai chương trong cuốn Đạo đức kinh để đem chữ đổi lấy một bầy ngỗng.
Trống lấy Nễ Hành làm tri kỷ. Nễ Hành là cuồng sĩ đời Hậu Hán, được tiến cử lên vua Hán Hiến đế. Tào Tháo, lúc đó là Thừa tướng, sai người triệu Nễ Hành tới. Hành rất hận Tào Tháo lấn át quyền vua nên lúc đối đáp, Nễ Hành chê bai tất cả các văn quan võ tướng của Tào Tháo. Tháo muốn làm nhục, cho Hành làm chức Cổ lại để sớm tối đánh trống hầu những buổi thiết triều. Hành không từ chối. Hôm sau, Tào Tháo mở yến tiệc để thết tân khách, rồi sai Nễ Hành ra đánh trống. Tên đánh trống cũ bảo Hành phải mặc áo mới. Hành không thèm nghe, cứ mặc áo cũ mà vào, xắn tay đánh ba hồi trống, âm tiết tuyệt diệu, nghe văng vẳng như có tiếng đá, tiếng vàng ngân theo ai oán. Cử tọa ngồi nghe đều bùi ngùi sa lệ.
Tỳ bà lấy Minh Phi làm tri kỷ. Minh Phi tức Chiêu Quân, cung phi đời Hán Nguyên đế (49-33 BC), một trong tứ đại mỹ nhân Trung Quốc. Bị triều đình nhà Hán đem cống cho vua Hung Nô để cầu hòa, Chiêu Quân mang theo cây tỳ bà về phương Bắc để dùng tiếng đàn thổ lộ hết nỗi niềm sầu hận. Sự tích Chiêu Quân cống Hồ với hình ảnh người con gái dung nhan tuyệt đại, mặc áo choàng đỏ, ôm cây tỳ bà, cưỡi con ngụa trắng giữa vùng thảo dã mênh mông đã là đề tài cho thi nhân Trung Quốc rất nhiều thế hệ.
Vương Duy có bài thơ Chước tửu dữ Bùi Địch (cùng uống rượu với Bùi Địch) mà mỗi khi đọc bốn câu đầu, tôi không khỏi giật mình pha lẫn đôi chút ngậm ngùi:
Chước tửu dữ quân, quân tự khoan
Nhân tình phiên phúc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tảo đạt tiếu đàn quan
(Rót rượu mời ngài, ngài cứ uống thong dong. Tình người tráo trở như sóng nước. Bạn tương tri giao du với nhau từ thuở đầu xanh cho đến khi tóc trắng, thế mà lúc gặp nhau vẫn còn để tay lên đốc kiếm đề phòng! Bạch thủ tương tri do án kiếm. Bạn thuở hàn vi đã sớm thành đạt thì cũng đừng nên tới thăm để khỏi bị cười vào mũi! Chu môn tảo đạt tiếu đàn quan).
“Đàn quan” tả cái cử chỉ phủi mũ vội vàng để chuẩn bị lên đường. Theo “Vương Cát truyện” trong Hán Thư, thì đời Tây Hán có Vương Cát là bạn chí thân với Cống Vũ. Vương Cát làm quan lớn, Cống Vũ cũng vội vàng chuẩn bị khăn gói đến tìm bạn để xin một chức quan. Người đời gọi là “Vương Cát tại vị, Cống Vũ đàn quan”. Nhiều tài liệu cho rằng, câu đó biểu hiện sự khắng khít của tình bạn, nhưng không nhận ra ý mỉa mai ngầm. Cho nên trong câu thơ của Vương Duy mới thêm một chữ “tiếu” là cười. Đừng mơ mộng hão huyền khi muốn nhờ vả những người bạn chí cốt thuở hàn vi, khi họ đã bước chân vào thế giới của tiền tài và thế lực. Chữ “tri kỷ” tự cổ chí kim đã trở thành một món hàng xa xỉ trước bệ cổng nhà quan.
Hán Quang Vũ nhà Hán khi còn nhỏ tuổi có một người bạn thân tên gọi Nghiêm Tử Lăng. Sau khi Hán Quang Vũ lên làm Hoàng đế, Nghiêm Tử Lăng bèn lánh ra Phú Xuân giang làm người câu cá. Hán Quang Vũ cho triệu ra làm quan, nhưng ông từ chối, không chịu “đàn quan”! Những kẻ đời nay sẽ cho đó là thái độ gàn, thậm chí ngu ngốc của một kẻ “không thức thời”, nhưng chính đó là một nhân cách lớn quá đỗi hiếm hoi.
Mối tình tri kỷ “Một khi đã gắn bó thì ngàn thu không đổi” chẳng lẽ chỉ có giữa người và loài vật thôi ư, để khi gặp nhau không còn “án kiếm”? Vậy thì hạnh phúc vô cùng cho những ai có được một người tri kỷ để cùng nhau “cạn một hồ trường” giữa “thiên hạ mang mang”.( Dat Quang magazine)
H.N.C
→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
Và khi rời HUẾ…
Tháng 4 9th, 2008 · No Comments
Phan Chín
Trong nồng nàn hương cỏ
Giữa rì rào thông reo
Bờ môi em nắng ấm
Ngự Bình quên sang chiều
Xõa ngang vai ngày Huế
Nghìn sợi xanh tóc thề
Gió thì thầm đắm đuối
Lời hẹn hò sơn khê
Hỏi làm chi trời đất
Huế trầm tư kiệm lời
Cứ nhìn sâu vào mắt
Tình theo về tinh khôi
Mình không lên Thiên Mụ
Sợ lời nguyền chia ly
Cùng xuôi về Vỹ Dạ
Nghe mùa lên xanh rì…
Vậy mà khi rời Huế
Môi còn hằn dấu môi
Mắt còn sâu trong mắt
Sao tình về xa xôi?…
P.C
→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
Cảm ơn !
Tháng 4 9th, 2008 · No Comments
Phương Dung
Đợi mùa Xuân từ khi gió mùa Đông Bắc thổi
(Xuân sang anh lại quay về)
Em lạnh căm trong từng cơn gió nổi
Thắc thỏm chờ con nắng lập xuân
Có hiểu dùm em không anh
Em không còn trẻ nữa
Một chút gì tan vỡ đi qua
Trái tim bây giờ đã rã rời từng mảnh
Cảm ơn anh đã nhuộm xanh tóc em
Mùa xuân trở về rồi đó
Hãy len lén nhưng vội vàng
Em còn rất hiếm thời gian mộng tưởng
Cảm ơn anh đã yêu em
Đã xé hết mùa đông nhiều gió bấc
Để thắp cho em nhành mai vàng
Mừng tuổi!
Nếu có anh ở đây
Em sẽ hôn lên đôi bàn tay
Em sẽ gọi anh : Hạnh phúc !
Và có khi em khóc
Nắng xuân từ anh có sáng nơi em
Em vẫn mong mùa xuân và vẫn sợ xuân sang
Bởi mình vẫn cách nhau : Vực thẳm!
Vẫn phải gọi thầm trong đêm.
Cảm ơn anh đã yêu em
Tình yêu của anh đã làm em trẻ lại mười lăm
Trẻ mãi trong lòng em, trẻ mãi
Nên cảm ơn hoài - Anh đã yêu em !
→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
Thu Quảng -Đà thu Boston
Tháng 3 26th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Mưa mảnh dẻ rù rì điệp khúc từ New Hamsphire
Anh dìu em lụm cụm chạm bay vàng rụng
Bunker hill,Lexington,Gò nổi ,Sơn trà
Mùa trùng trùng lá xanh đâu rồi !
quắt quay bụi chuối gió nam Lào héo xàu
ngắn ngủi nụ tơ phập phồng mù tít phương trời
giông đen
Mùa hãi hùng thu xưa ơi
Anh kiệu con xoi thủng mái tranh ngước nhìn
vô vọng
sống lưng
lạnh
Bạn già hát công quả giữa chợ Dorchester
giọng khàn khàn vịt đực
Thu quyến rũ,Thu cô liêu, Thu hát cho người
thùng phước sương đầy chưa
Đôi má hóp mẹ già địu bủng beo niềm xứ sở
Freeway vun vút sáu làn xe rào rào
Sương như mo cau úp vào thảm vàng loang lổ
Lụt tràn đường cái đường đê rồi
Mẹ cúng ông chuồng bằng nước mắt
Thu ơi ta hãi thu mà thương thu như xé
Mùa chưa ngấm đã mọc mầm đau triền miên bão tuyết
gối quê nhà trong chập chờn say
Gío lì lợm quất ngược
Thu chìm trong mưa mù trừ âm âm độ
Líu lo ngọng nghịu phận lạc linh
Gió từ phương nào với anh cũng từ phương mùa đông bắc,nồm nam
Năm eo ngửa lòng hướng biển gió chướng triều lên
dập dềnh mái tôn trôi con chó già kinh hoàng ăng ẳng
Xe chui vào hầm xe lên cầu vượt
khúc tráng ca đường sá xứ người
rưng rức con đường quê mưa bùn nắng bụi
trốn tìm quanh quất bụi chuối bờ tre
Còn mấy thu vàng rơi
trên môi người tình già còn chút dây mơ rễ má
Đỉnh Trường sơn trùng trùng Harvard University cao ngất
Anh phủi hết tóc mờ bước nhanh đến thế nào cũng không bao giờ còn được tới ầu ơ ví dầu…
28/03/08
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
“trang thơ thập thò nhánh rẽ…”
Tháng 3 20th, 2008 · No Comments
Lý Đợi
“trang thơ thập thò nhánh rẽ…”
+ Đọc tập thơ Phía sóng của Phạm Tấn Dũng, Hội VH-NT tỉnh Quảng Nam, 1-2008.
Nghệ-Thuật là cao quý.
Người làm ra Nghệ-Thuật đã cao quý.
Người thưởng ngoạn Nghệ-Thuật còn cao quý hơn.(1)
Giới hạn bài viết:
Thứ nhất, bài viết ngắn này được thực hiện trong tư cách của một người đọc – một người bạn của tác giả, nghĩa là nhìn từ bên trong, với nhiều cảm tình; chứ không phải trong tư cách một nhà thơ, hay một nhà phê bình – một người ở bên ngoài, và đương nhiên sẽ phải nhìn từ phía khách quan, với những suy luận mang tính cách logic. Tại sao tôi nói điều này, vì nếu thay đổi tư cách này, hướng triển khai, góc nhìn và mục đích của bài viết sẽ hoàn toàn thay đổi.
Thứ hai, bài viết này xoay quanh khổ thơ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa” ở trang 20 của tập Phía sóng. Từ cái nhìn có tính cách chủ yếu và khu biệt này, tôi nghĩ về cả tập thơ, và thử vẽ ra một vài chọn lựa của tác giả.
Thứ ba, cũng là lý do hết sức cá nhân, để ủng hộ một trong những người làm thơ đang sinh sống ở Điện Bàn, quê của gia đình tôi, nơi được xem là một “mảnh đất của thơ ca”(2), mà trong khoảng 5 năm qua lại không có một tập thơ nào tươm tất ra đời.
Tạ với thung xưa
Tôi nắng chiều ùa về gò xưa
Bằng đôi cánh chuồn chuồn
Như chớp vào chiều cánh hoa bằng lăng tím
Tìm bóng em dẻo thơm nước mắt
Bên cái nghèo lấp lánh
Bên cái ngày tôi bỏ chính tôi đi
Tôi là nắng mà không thành sóng nước
Tôi là em mà không tìm ra tiếng gọi
Kỷ niệm ngày xưa đuổi khói lên trời
Vì mong manh nên không đầu không cuối
Vì rong chơi xé áo bọc đường về
Tôi lau mồ hôi gọi tên em dưới sao đêm
Bầu trời ngày xưa còn thẹn thùng tiếng ếch
Sương khói cánh cò đậu trắng trong tôi
Tôi phả hơi vào đám rêu ngày về
Có tiếng lá rơi trong chiều nắng rụng
Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên
Trang thơ thập thò nhánh rẽ
Như muốn chở gió chở nước
Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi
Chở gò đồi thắp sáng non xanh.
*
Với tư cách người đọc, tôi chọn bài thơ này để đọc không phải vì nó tiêu biểu cho phong cách cũ của tác giả, cũng không phải vì nó mới, có nhiều thử nghiệm nhất.
Nếu chọn một bài tiêu biểu cho phong cách cũ, tôi sẽ chọn bài “Khía đàn ông” ở trang 43-44, vì ở bài này, vẫn là cách lý tưởng hoá cái tôi, để qua cái tôi này – cái bản thể luận duy nhất này – mà nhìn ra thế giới xung quanh. Đọc những câu như:
… “Tôi ngửa tay xin đẹp
Tôi tặng cả đất trời
Tôi để dành nỗi lo
Tôi giàu sang nước mắt con gái.”
… ai cũng có thể thấy có cái gì đó quen quen trong cách xây dựng cấu tứ, hình tượng. Một mỹ cảm và mỹ cảnh đã khá gần gũi với những ai quen đọc thơ tình những thập niên 1970-1990. Giữa một bên là chuyện “đại sự quốc gia” với muôn vàn khó khăn, giữa một bên là những “tâm sự loài chim biển”, những tình cảm riêng tư như vừa được nhắc đến, vừa mới chớm nở trở lại. Trong khi đời sống và tâm tư tình cảm thời nay thì không còn được như thế nữa.
Còn nếu chọn một bài khác cho phong cách mới, có đôi chút thể nghiệm của Phạm Tấn Dũng, tôi không ngại ngần khi chọn bài “Đá ong” ở trang 59-60, gần cuối tập, nơi chuẩn bị khép lại một giai đoạn cũ, để mở ra một cuộc chơi mới ở những tập tiếp theo. Hai đặc điểm để bài thơ này không thật mới – theo cách nhìn từ bút pháp – là vì nó vẫn còn lệ thuộc vào một vài vần lưng, và riêng ở khổ cuối, nó lại trả bài thơ, và đương nhiên, trả chính tác giả lại thời kỳ đầu của mình, nơi mà những tư duy về hình tượng và ngôn ngữ còn “cũ” hơn trong bài “Khía đàn ông”. Khổ cuối được tác giả viết như vầy:
… “Này đá ơi đừng buồn
này người ơi đừng khóc
khúc sông buồn rêu xanh
mai mưa lên ngày cũ
mát đoạn đời rong rêu”
… bài thơ này gồm có 7 khổ, 5 khổ đầu là một thể nghiệm với nhiều thành công của tác giả, còn 2 khổ cuối thì lại làm “khổ” chính tác giả.
Thơ Phạm Tấn Dũng là một cuộc chơi mà sự băn khoăn đang ở chính giữa “mới” và “cũ”, một cấu tứ nhị phân. Y như câu thơ của chính anh: … “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”.
Trong một trật tự biểu trưng (Symbolic order), tập thơ này gần như hiển nhiên được sắp đặt trong một cấu trúc gần như được bày sẵn bởi các thiết chế xã hội, chuẩn mực ngôn ngữ - đạo đức, và cả quy cách tư duy về hình tượng đã tồn tại trước khi tác giả ra đời(3). “Trong lịch sử truyền thống, sự tìm kiếm cho ra những nguồn gốc trong những chân lý lớn lao về đạo đức là hoàn toàn bị lạc lối; mọi thứ đều phục tùng cái nhìn soi rọi đang làm phân rã của lịch sử. Không có những cái tuyệt đối. […] Chúng ta tin rằng những cảm xúc là không thể biến đổi, nhưng mọi tình cảm, đặc biệt là tình cảm cao thượng nhất và vô tư nhất, đều có một lịch sử. Chúng ta tin rằng, trong bất kỳ sự kiện nào, cơ thể cũng tuân thủ theo những luật riêng biệt của sinh lý học, và chúng ta tin rằng nó thoát khỏi ảnh hưởng của lịch sử, nhưng điều này cũng sai nốt.”(4)
Vì những lý do như trên, rất khó để bác bỏ cách đọc của tôi là không mang tính lịch sử, và hoàn toàn sai lầm. Cho nên, tôi giả định cách nhìn của tôi là hợp lý, và đúng mực. Trong bài thơ “Tạ với thung xưa”, tôi thấy nó thể hiện rõ mấy điều sau đây: Khổ 1 được viết với nỗi niềm hoài nhớ về quê cha của tác giả, Gò Nổi: … “Tôi nắng chiều ùa về gò xưa”. Khổ 2 và 3, là những tâm tư cần giãi bày, là những suy nghĩ mong manh cần gởi gắm: … “Vì mong manh nên không đầu không cuối”. Và khổ cuối, mỗi câu, mỗi cụm câu là một chuyên chở rất cụ thể, thể hiện rõ “ý đồ” sâu kín của tác giả:
- “Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên”: Phạm Tấn Dũng. Một cái tên mà chính như tác giả đã tỏ lộ ở bìa 2 của tập thơ: “Đã có thơ in trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các tuyển tập TW và địa phương.”
- “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”: những băn khoăn, tự tin như tôi đã nói ở trên. Một cuộc dằn co giữa cái hiện thời – cần vững bền, và cái cần thay đổi, mới hơn ở tương lai.
- “Như muốn chở gió chở nước / Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi / Chở gò đồi thắp sáng non xanh.”: Từ một thế giới quan (“chở gió chở nước”) đi đến một cảm quan (“muộn màng hối lỗi”), rồi một ước mơ (“thắp sáng non xanh”).
Đọc được một khổ thơ, mà ở đó ẩn chứa được hầu khắp tâm tư của tác giả; ở đó là thông điệp của toàn tập thơ; là “cửa sổ” để nhìn vào quan điểm của người làm thơ… là một may mắn và hạnh phúc.
Hạnh phúc có tính cách riêng biệt của cá nhân, của trò phân tích ngôn ngữ, một trò ảo thuật và phù thuỷ. “Nơi người ta muốn bất chấp những dao động của tập quán ngôn ngữ bằng một chút chuyên quyền.” (S. Freud)(5). Nói như chính nhà tâm phân học này: … “Thế là ảo thuật căn bản đã thành nghệ thuật tác động đến các thần, bằng cách người ta quan trọng hoá chúng, tô hồng chúng, thiên vị chúng, đe doạ chúng, tước quyền chúng, vứt bỏ chúng theo ý thích của mình, bằng cùng những phương tiện mà người ta tìm ra một cách đích thực cho những người sống.”(6) Từ cách lý giải các trò ảo thuật và phù chú mà S. Freud đã quan tâm trước đây, tôi nghĩ vẫn có thể lý giải về văn học và các biểu hiện về văn hoá bằng cách này.
… “Đúng, Zarathoustra đã nói đúng, vì nghệ thuật làm ra mà không có ai hưởng ứng cũng như mặt trời kia soi sáng trên vùng đất chết, không sinh vật, thì nguồn sáng thiên liêng đó cũng vô ích.”(7) Ủng hộ và hưởng ứng công việc (không phải chuyên tâm và có tính chiến lược) của tác giả, tôi có thể “bất chấp” một vài giới hạn về định đề văn học, một vài định kiến vốn bày sẵn trong việc thẩm định nghệ thuật… để “nâng quan điểm” trong cách đọc và nhìn như ý muốn của riêng mình. Một cái nhìn như là một cuộc chơi, có tính cách “vui thôi mà”.
*
Chơi. Một khái niệm bao quát và thâm trầm. Nhưng cũng có thể là một khái niệm giản đơn và là một biểu hiện khá rõ nét trong tập Phía sóng. Và cũng là một chọn lựa của tác giả.
Trong một lần trò chuyện gần đây (khoảng giữa tháng 1.2008), Phạm Tấn Dũng nói: “Với tôi, viết báo, vẽ tranh, làm thơ… chỉ là một cuộc chơi không đầu không cuối. Vui vẻ, nhẹ nhàng và không chấp vào bất cứ điều gì.” Sau khi đọc Phía sóng, tôi tin vào lời nói có tính cách phát biểu này, vì ở đây thiếu một sự kiên quyết (ví dụ như bài “Đá ong” đã nói ở trên), thiếu một sự cực đoan cần thiết để vượt qua những “thập thò” có tính chất cố hữu trong bất kì người cầm bút nào.
Tuy nhiên, làm thế nào để thuyết phục người nghe và người đọc nhận biết việc làm thơ như là một cuộc chơi đích thực thì thật khó khăn. Bởi lúc nào “trang thơ [cũng] thập thò nhánh rẽ”, ở đó chứa một tham vọng, một ý đồ kiếm tìm một sự thay đổi, một giá trị, một địa vị về tên tuổi. Rõ ràng, thơ không phải từ hư vô sinh ra, và cũng không phải đi về hư vô. Bất kì một công việc, một câu thơ nào cũng chứa một ý định, một ước mơ, hay ít ra, một sự mộng du… đi về phía người đọc.
“Nơi góc vườn kia
Ai đó vừa thắp lên đoá trăng non
Đêm lệch về phía vỉa hè
Tiếng gió rung lên
Quét tôi cùng tiếng kêu đêm của loài chim mộng du”
(Phía sóng, bài “Vườn khuya”, khổ 1, trang 19)
*
Trở lại với khổ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa”, nếu được viết lại, tôi thử đề nghị một chuyển mạch có tính cách bậc thang (kiểu Maiacovsky), bỏ một vài cách viết hoa đầu dòng, để cảm xúc được liên tục chảy, và khát vọng được nhìn rõ hơn.
… Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên
Trang thơ thập thò nhánh rẽ
Như muốn chở gió
chở nước
chở cỏ cây
muộn màng hối lỗi
chở gò đồi
thắp sáng non xanh.
Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một ước vọng có tính chất “thập thò”, một hy vọng có tính chất ngông cuồng và tự kỷ. Một kiểu diễn ngôn (discourse) về văn bản, mà trong ý nghĩa rộng nhất của nó, nó có nghĩa là bất cứ điều gì được viết hay được nói hay được trao đổi bằng cách dùng những ký hiệu, và đánh dấu một sự liên hệ trực tiếp đến ngôn ngữ, và cả cấu trúc của ngôn ngữ đó.(8)
Và cuối cùng, cũng trong khả năng của diễn ngôn có tính cách tự kỷ này, tôi đã bỏ qua những ảnh hưởng về từ ngữ, về ý tưởng, về cấu tứ… mà Phía sóng đã ảnh hưởng trực tiếp từ những tác giả, tác phẩm trước, và cùng thời với nó. Bởi như đã nói từ đầu, đây là cách của một người đọc, chứ không phải cách của một nhà thơ – một nhà phê bình với những quan tâm về lịch sử và tiến trình của văn học. Bởi trong một quan tâm đích thực thì văn học và nghệ thuật có liên hệ chặt chẽ với tri thức, với quan điểm, với trình độ diễn ngôn của người phân tích, và đương nhiên, với cả hệ thống diễn ngôn mà xã hội áp đặt. Và như thế, cả cách viết bài này cũng là một sự thập thò, bởi những quan tâm kiểu mới-cũ, kiểu hay-dở… dường như không hợp thời; về lịch sử lý luận, nó đã bị vượt qua. Nhưng nghĩ cho cùng, “nghệ thuật mang tính siêu nhận thức (meta-epistemic): nó nói về hệ nhận thức như một tổng thể, một phúng dụ về những kết cấu ở bề sâu, những kết cấu làm cho tri thức có thể có được.”(9) Nghĩa là trong nội tại từng tác phẩm, từng tác giả, nó vẫn chấp nhận nhiều cách thức khá riêng rẽ, và nhiều khi không cần hợp thời.
Trong góc nhìn của người đọc, “kẻ viết tự vỗ về bằng ảo giác cho no đầy hy vọng.”(10)
Khúc Lũy, mồng Mười, xuân Mậu Tý - 2008.
→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
Tiễn bạn trước lò thiêu xứ khách
Tháng 3 15th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Hài cốt tàn tro gọi thế nào cũng vậy
chung quy
tam mụi chân hỏa bên trời than lửa cố hương
không còn thấy bức
bụi lai khứ vòng vòng
tụ tụ tan tan
huề cả làng thôi oan khuất
lửa nung ba ngàn
tro tất
sá gì xương răng
may mà còn biết quá giang câu thơ
mắt lửa tròng vàng
sổ toẹt giận hờn
vuốt đuôi ấm ức
đừng huyễn về quả báo luân hồi
bánh vẽ ta bà còn không tham ăn
huống hồ phỉnh
mù tăm mù tít
Đáy huyệt lò thiêu
ức triệu sinh phần mồi cá khác gì nhau
thêm một tẹo thời gian
bóng của phù du không lý bất cứ mệnh nào
nghĩa gì đâu trước sau tro nước
Nước mắt bi nước mắt hề
không có con mắt thấu thị xuyên tầng
đố con mắt điện tử nào thấu được ?
15/03/08
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Bản gốc
Tháng 3 8th, 2008 · No Comments
Nguyễn Hàn Chung
Tất nhiên không bao giờ em muốn
làm một người đàn bà đầu xuân
còn khoác chiếc áo tàn đông ủ rũ
ngồi bó gối dưới hiên mưa
chỉ vì em khát nhìn giọt rơi từ mắt người đàn ông
lấy hân hoan trong cơn túng quẫn
làm quà tặng ngày sinh em
người xưa phán định những cấm kỵ đàn bà đàn ông
bằng sự nhân danh quyền phép
thử hỏi có ai dám bò qua mép vực
thả thời gian xuống hố thẳm dò thử nông sâu?
cứ bàn tán hoài ích gì
ngày cứ lên,sông cứ chảy ,chim cứ hót
hoa tàn ,trái rụng, chồi xanh
già úa héo tàn tro ,trai trẻ phổng phao
niềm tin cũ bị bào mòn thơ ngây niềm tin mới
trôi qua trôi qua
những đám mây không để lại dấu vết
kể cả những ước mơ giản dị nhất
rồi cũng băng hà
không đợi những vì sao thiên di về một hướng
tất nhiên không bao giờ anh biết được
vì sao em khoác chiếc áo tàn đông nhàu úa
ngồi bó gối dưới hiên mưa
nhưng anh hãy hiểu cho em
nếu tàn đông không mưa lấy gì chồi non kịp nảy
lấy gì cho những người yêu nhau phập phồng quấn quít
mưa cháy suốt chiều dài cuộc đời đàn bà
em còn chấp chịu
huống hồ
chi
1/2005
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Tôi quày quả tôi
Tháng 3 8th, 2008 · No Comments
1
Tôi ùa hả hê thanh xuân vào cuộc man rợ cầm thú
ghì riết những tiếng gọi gào rát họng
phương châm động
sự mê muội quái dị vô cảm
một lũ hạnh phúc hiến phụng không tưởng
Người hát sông Gianh –súng đạn
bạn bè tôi nằm xác lại vất vưởng không hình
(có những đứa khôn lanh nằm đại trên gường
trộn cả nắm vinh quang với hèn nhát nhằm giữ tấm thân huyết nhục tồi tàn)
chu kỳ tuổi trẻ tái diễn bội nhiễm
sao còn nỡ cuồng nộ xé nhau bằng những huyễn nghĩa vàng đỏ hữu hạn
thú thật tôi hằng tâm kính sợ những kẻ nhát gan
biết gậm nhấm khoái lạc
chủ nghĩa an thân thịnh trị
2
mà thôi
dù sao dần thân tỵ hợi cũng đã xương tan cốt tán
thìn tuất sửu mùi miên viễn đi
mẹ ơi dốc tiêu muối qua hết phía bên kia rồi còn nhói lời mẹ dặn
dao chém đá mà dao không quằn ư con ?
3
bỏ đi đau như bò đá dái
hòn thót lên tim ức nghẹn
quần tơi tả mà nhớ cứ nhớ đau cứ đau
có mà lạ
biết vèo một hơi là thị ngạn
mà không chịu hồi đầu Eva
ngông nghênh hát khúc cũ mèm múa hoài tay trong bị
đứa nhát hít chê thằng hèn đớn
ngó nhau dấu tiếng thở dài
chơi trò chàng nàng dục tính đam mê tụng hót với nhau bầy đàn xoắn xít
thương hồ thương nữ thương ngân thương thân
phạm trù thói lẽ thường
chữ nghĩa cùng mình hàng hàng đui điếc buồn thiu
mới hãi
xác diễn tập vãng lai hồn bày trò quy khứ
muôn sắc màu còn lại một màu em
4
Ai từng đứng ở ngã ba cứng người vì những nụ cười điêu
những giọng mềm vật dục
dù đã nhét vào đầu hàng ngàn câu triết
mới hiểu tình yêu bảo bối đến nhường nào !
phút tục tằn đẻ ra những vì sao
5
bên nớ bên ni hoàng hôn không đổi khác
chạng vạng bên này mai sớm phía bên kia
mặc sắc phục tình yêu dĩ nhiên là hoạt
mà em ơi anh lại không đành
mẹ lấm lem dưới sình ngoáy tay vào hang cua chỉ gặp toàn vỏ ốc
anh còn mặt mũi nào vắt chân lên đời niệm thinh
6
phế bỏ hoàng hôn đời chẳng còn thú vị nào
ăn ngon chỉ tổ thừa cân thôi là hết những đường cong háo hức
mặc đẹp ngoài thân sát na ấy cởi ra là vất tất
phút rung người quá độ đìu hiu
sông vẫn cạc cạc biển vẫn ù ù
em dớn dơ dớn dác
cuộc còn đen thui
7
Không đủ tinh lực khóc cho ra khóc cười cho ra cười
bần bật bần bật tôi quày quả tôi
Sugarland Texas
29/02/08
→ No CommentsTags: Tác phẩm thơ
Đêm thơ hội Blogger Đà Nẵng
Tháng 2 25th, 2008 · No Comments
Nhân ngày thơ Việt Nam năm nay, Hội Bloggers Đà Nẵng đã tổ chức đêm thơ nhạc giao lưu tại Bảo Nam Trân Quán. Đây là điểm sinh hoạt nổi tiếng nhất nhì của Tp này. Đêm thơ nhạc đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho công chúng. Đến giờ phút cuối mà các đại biểu và các anh chị em văn nghệ sĩ vẫn không muốn ra về. Họ cứ nấn ná, lưu luyến trò chuyện mãi. Nhà thơ Bùi Công Minh cho rằng đây là đêm thơ nhạc đầy ấn tượng, cách tổ chức mới mẻ, chọn lọc và có chất lượng nghệ thuật cao so với nhiều cuộc tổ chức trước đây. Một sân chơi mới phong phú, hấp dẫn, thu hút được công chúng mà Ban tổ chức chỉ vỏn vẹn có mấy người trong Hội Bloggers Đà Nẵng thực hiện; không những chẳng tốn kém kinh phí mà còn mang lại cho những trẻ em bất hạnh số tiền thu được của các nhà hảo tâm trong đêm nay lên đến 25.400.000 đồng. Thật đáng ghi nhận sự nỗ lực đầy tâm huyết của các Bloggers Đà Nẵng .


Nhà thơ Bùi Công Minh

Nhà văn Bùi Tự Lực, CT Hội Blogger đọc lời khai mạc
Đêm thơ nguyên tiêu Bloggers Đà Nẵng
LẠ, VUI, CẢM ĐỘNG!
Đó là ý kiến chung của cử tọa tham dự đêm thơ nguyên tiêu do nhóm Bloggers Đà Nẵng tổ chức tại Cà phê Bảo Nam Trân (27 Nguyễn Chí Thanh, TP Đà Nẵng). Lạ vì khách mời đến dự qua tin nhắn SMS và khen ngợi, góp ý điều chỉnh âm thanh, ánh sáng cho MC cũng qua di động. Còn lạ vì có không ít thi hữu đọc tin trên mạng như Nguyễn Đốc, Lê Anh Dũng cũng đến đọc thơ, không câu nệ giấy mời.

Hình thức đêm thơ cũng mới. Âm thanh, ánh sáng huyền hồ lấp loáng. Tác giả vừa đọc thơ vừa dạo bước qua hai nhịp cầu, trông “sành điệu” chẳng khác các sao. Các ca sĩ Đỗ Quyên, Thanh Trà, Cẩm Vân hát với guitare hoặc play back vẫn nghe hay, nhiều cảm xúc. Đặc biệt các nhạc sĩ Trần Quế Sơn, Nguyễn Đức, Diệp Chí Huy, Nguyễn Văn Nho và các nhà thơ đến từ xa như Phan Xuân Sinh (Mỹ), Trần Từ Duy (TP HCM) cũng góp tiếng thơ lạ đối với TP Đà Nẵng vốn chưa từng có sinh hoạt văn nghệ mạng offline.

Nhà thơ Phan Xuân Sinh (Mỹ)đến với đêm thơ
Đài truyền hình DVTV cử tổ 4 phóng viên đến ghi hình, phỏng vấn nhà văn Bùi Tự Lực và các nhà thơ Võ Kim Ngân, Đặng Ngọc Khoa, Nguyễn Ngọc Hạnh, tiếp đó Thạc sĩ văn học Trương Vũ Quỳnh cũng của DVTV trình bày một số suy nghĩ khi thơ ca từ “thế giới ảo bước ra thế giới thật”.

Điều đó đã được chứng nghiệm trong đêm thơ Bloggers Đà Nẵng. Người nghe đến phút chót. Các tác giả không chỉ đến để đọc thơ, hát mà còn mang theo tác phẩm, tặng vật để thông qua chương trình, góp phần giúp đỡ trẻ em bất hạnh. Thật bất ngờ, mới giữa chương trình các nhà hảo tâm đã mua sạch tặng phẩm, tác phẩm với số tiền lên đến 25.400.000đ, trong đó Công ty Cổ phần 579 là một trong những cái tên đáng nhớ!

Nói với MC Đặng Ngọc Khoa sau đêm thơ, nhà thơ Bùi Công Minh (tác giả bài thơ do nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc: Hành khúc ngày và đêm) khích lệ: “Lạ, mới, hay và ấm áp tình người”.
ĐNK (từ biên giới Kon Tum- Attapư, 22.2.08).
Dưới đây là một số hình ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Hải [và ĐNK] thực hiện.
Nhà thơ Trần Trình Lãm với giọng ngâm mượt mà

Nhà thơ Bùi Công Minh ký tặng thơ
Kỹ sư Đàm Quang Tuấn, CT HĐQT Công ty 579 ủng hộ 10 triệu đồng thông qua tác phẩm Phật bà trên đá của nghệ nhân, nhà thơ Lê Nguyên Vỹ gửi tặng chương trình

Nhạc sĩ Diệp Chí Huy về từ Togo với một nét châu Phi
Đón khách mời, kiêm thủ quỹ đêm thơ, nhà thơ Võ Kim Ngân bất ngờ xúc động khi đọc thơ
Nhà thơ Nguyễn Đốc với những câu thơ lục bát lung linh

Các nhà thơ chan hòa với khách mời. Bìa phải là nhà thơ Phan Xuân Sinh (Mỹ). Anh mang theo 3 tập thơ “Khi tình đang ru đời” (NXB Văn nghệ TPHCM 2008) ủng hộ chương trình.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức với ca khúc “Rong chơi” do anh sáng tác. Trước đó là một ca khúc anh phổ thơ Lê Anh Dũng
VTV quay phim tư liệu đêm thơ

Nhà thơ Lê Anh Dũng gây sốc với bài thơ “Mắt em hiền như… mắt bò”
Nhà thơ nữ Liên Hương với bài “Chợ Quê”
Diệp Chí Huy bập bùng ca khúc Nghêu ngao. Bức tranh châu Phi của anh đã được anh Hùng, Công ty 579, mua ủng hộ 5 triệu đồng, cho trẻ em bất hạnh
Nhạc sĩ Trần Quế Sơn phiêu hốt “Cõng mẹ đi chơi”. Tấm ảnh hồi anh 1 tuổi (ở truồng) cùng bản chép tay ca khúc này đã mang đến cho trẻ em bất hạnh thông qua đêm thơ 2 triệu đồng
Càng về sau, đêm thơ càng sôi động. Khách mời Cẩm Vân với một ca khúc của Trần Quang Lộc& Nguyễn Đông Giang
Khách mời/ Thạc sĩ văn học Trương Vũ Quỳnh (DVTV) tản mạn về văn chương mạng…
Ông Lưong Minh Sâm (phải), giám đốc Sở Ngoại vụ TP Đà Nẵng, ủng hộ 3 triệu đồng thông qua tập ký sự Đặng Thùy Trâm có chữ ký của tác giả của Đặng Ngọc Khoa. Tổng cộng 3 tập ký sự này đã mang đến cho các em bất hạnh gần 7.000.000đ

Chương trình đã để lại ấn tượng đẹp và xúc động trong lòng hàng trăm người dự khán
Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh (bìa trái), nhà văn Bùi Tự Lực (thứ 3 trái sang) và MC Đặng Ngọc Khoa (bìa phải) tặng hoa cảm ơn doanh nghiệp trẻ Đỗ Long, chủ nhân Bảo Nam Trân→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
Tháng 2 25th, 2008 · No Comments
Mai Hữu Phước
Tôi giật minh. Bởi lẻ tôi đâu có viết gì cho tạp chí này, và bạn bè cũng không có ai allo là giới thiệu tôi trên tạp chí này. Tạp chí echip thì tôi có thấy trên quầy, nhưng tôi thật tình là chưa đọc nó bao giờ. Tôi đảo quanh các quày tìm… tôi trên tạp chí đó mà không tìm ra. Lên mạng tôi thấy website của echip có giới thiệu giai phẩm echip mừng Xuân Mậu Tý 2008 (ra ngày 18/01/2008) có bài viết nhan đề Những blogger đất Quảng. Tôi đoán tôi… nằm trong đó !
Không rõ tạp chí nay bán quá chạy ở Đà Nẵng hay số lượng về ít mà không tìm ra. Tôi vẫn để ý thấy có những tờ echip cũ người ta vẫn bày bán dài hạn trên quày, nên sau Tết tôi lại lòng vòng tìm mua “phế phẩm”, vì không biết ai có số này để mượn dòm thử.
Hơn 1 tháng tính từ thời điểm phát hành tôi mới lùng ra nó. Giá bìa của giai phẩm xuân là 19.500 đồng. Nhưng “phế phẩm” mà tôi mua cũng “cứng” giá 15.000 đồng. Thôi thì cứ xem như đang ở trong thời điểm mà tạp chí mới phát hành và tôi mua với giá “khuyến mãi” rẽ một cách dễ chịu.
Những blogger đất Quảng được viết bởi Tạ Xuân Quan. Tác giả bài viết và tạp chí đã ưu ái tấm hình tôi to đùng trên trang thứ nhất. Bên trên là hình chụp trang web của Chàng trai già Quảng Nam là nhà thơ Nguyễn Hàn Chung (quê Điện Bàn) từ bên kia nửa địa cầu. Trang thứ hai của bài viết có hình trang web của Nguyễn Mậu Hùng Kiệt (Quế Sơn), hình nhà báo Phan Chín đang “sờ” con chuột, đứng bên cạnh là hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Minh Tạo. Một tấm ảnh nhỏ hơn là blogger, nhà báo Nguyễn Minh Sơn (tức Hoa Ngõ Hạnh) đang xách… giày leo dốc núi, phía sau lưng anh là con đường loằng ngoằng xa tít tắp… Bài báo đến nữa trang thứ 3 mới kết thúc.
Dưới đây là ảnh chụp hai trang đầu của bài báo để giữ làm lưu niệm
→ No CommentsTags: Văn thơ bầu bạn
PHIÊN CHỢ ĐẦU NĂM
Tháng 2 22nd, 2008 · No Comments
Lương Mỹ Linh
Ngày tết qua mau. Với tuổi mẹ bây giờ, Tết chưa cạn miếng trầu. Xong mâm cơm tiễn đưa ông bà, mẹ lại ra vườn. Phiên chợ đầu năm không bán được nhiều. Thời buổi bây giờ, có sự trợ giúp của máy móc, người ở phố đã trữ khá nhiều rau trái từ trước Tết. Chợ đầu năm chỉ xôn xao trong một thời điểm nhất định, không quá sớm và cũng không quá trễ. Chẳng ai phải lo đi chợ sớm để mua sắm sau những ngày Tết mệt nhoài. Cũng không ai nán lại để bán thêm tí chút khi đã quá trễ. Thao tác mua bán được đơn giản, người mua nhanh chóng mua những thứ cần. Người bán cũng khá dễ dãi. Giống như chút lộc xuân lì xì cho nhau nhân đầu năm mới, mong sao có được một năm mua bán thuận hòa.
Dù đã dự định những loại rau trái cần bán và bán được cho buổi chợ đầu năm, nhưng mẹ vẫn cứ tần ngần mãi trong vườn. Thật kỳ lạ, ai bảo rằng cỏ cây không có tuổi. Chợ chiều






